• Tiếng Việt
  • English

9 THAY ĐỔI NỔI BẬT CỦA LUẬT SHTT NĂM 2022 (Phần 2)

9 điểm mới nổi bật của Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2022 (Phần 2)

 

by Trần Tuyên, Thanh Hồng,

Thuỳ Linh, Thuý Hà, Quang Minh

ELITE LAW FIRM

Cập nhật: 06-9-2022

 

5. Các quy định về thực thi quyền Sở hữu trí tuệ có những thay đổi gì đáng chú ý trong Luật SHTT sửa đổi 2022 lần này?

Quy định về thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong Luật SHTT 2022 có những điểm sửa đổi nổi bật như sau:

(i) Thứ nhất, bổ sung thêm thủ tục phản đối đơn sở hữu công nghiệp ngoài thủ tục nộp ý kiến của người thứ ba về việc cấp văn bằng bảo hộ (theo Điều 112a)

 

Nội dung Điều 112 của Luật SHTT 2022 về ý kiến của người thứ ba về việc cấp văn bằng bảo hộ được giữ nguyên như trước và đã được bổ sung thêm quy định về ý nghĩa của thủ tục này, cụ thể là, “Văn bản nêu ý kiến của người thứ ba được coi là một nguồn thông tin tham khảo cho quá trình xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp.”

Tuy nhiên, để nâng cao chất lượng của Văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được cấp, hạn chế tối đa các sai sót và tạo thêm kênh góp ý thông tin của công chúng trong quá trình thẩm định đơn tại Cục SHTT, Luật SHTT 2022 đã bổ sung thểm thủ tục mới cho phép bên thứ ba phản đối đơn đăng ký sở hữu công nghiệp (gồm đơn đăng ký sáng chế, GPHI, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu) tại Điều 112a, song song với việc giữ nguyên thủ tục (cơ chế) cũ là nộp ý kiến bằng văn bản của người thứ ba về việc cấp văn bằng bảo hộ (điều 112 như nêu trên).

Theo đó, trong khi thủ tục nộp ý kiến bằng văn bản bởi người thứ ba có thể được thực hiện trong một khoảng thời gian dài, từ thời điểm đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được công bố trên công báo sở hữu công nghiệp cho đến trước ngày Cục SHTT ra quyết định cấp bằng bảo hộ thì thủ tục phản đối đơn đăng ký sở hữu công nghiệp lại bị giới hạn trong một khoảng thời gian giới hạn đối với từng loại đơn như sau:

Trước ngày ra quyết định cấp văn bằng bảo hộ, trong thời hạn sau đây, bất kỳ người thứ ba nào cũng có quyền phản đối việc cấp văn bằng bảo hộ:

  1. a) Chín tháng kể từ ngày đơn đăng ký sáng chế được công bố;
  2. b) Bốn tháng kể từ ngày đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được công bố;
  3. c) Năm tháng kể từ ngày đơn đăng ký nhãn hiệu được công bố;
  4. d) Ba tháng kể từ ngày đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý được công bố.

Luật SHTT 2022 cũng đặt ra trách nhiệm phải giải quyết và trả lời ý kiến phản đối đơn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Cục SHTT) về việc có chấp nhận ý kiến nêu trong đơn phản đối hay không. Như vậy, Luật SHTT 2022 đã bổ sung thêm cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể Quyền SHTT trước đó. Đồng thời, có thể thấy quy định mới này đã tạo thêm điều kiện, cơ sở pháp lý cho các chủ sở hữu quyền SHTT đang được pháp luật bảo hộ có thể ngăn chặn sớm khả năng bị bên thứ ba xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đang được bảo hộ của mình và qua đó tạo điều kiện cho chủ sở hữu quyền có thể khai thác, sử dụng tài sản trí tuệ của mình một cách hiệu quả trong hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.

 

(ii) Thứ hai, các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã được sửa đổi và xử lý thống nhất theo các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính (Điều 214)

 

Trong lần sửa đổi Luật SHTT lần này, các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tại Điều 214 Luật SHTT 2022 đã được sửa đổi và xử lý thống nhất theo các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Theo đó, Luật SHTT 2022 không còn quy định các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả riêng đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nữa mà dẫn chiếu việc xử lý theo các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính để đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng và tránh sự xung đột, chồng chéo trong các quy định pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng luật của các cơ quan thực thi quyền SHTT tại Việt Nam.

 

(iii) Thứ ba, bổ sung quy định về thẩm quyền xử lý hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của cơ quan hải quan (điểm b khoản 2 Điều 216, Khoản 4 Điều 218)

 

Theo quy định tại khoản 2, Điều 216 Luật SHTT 2022, cơ quan hải quan có quyền tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nếu trong quá trình thực hiện kiểm tra, giám sát và kiểm soát phát hiện căn cứ rõ ràng để nghi ngờ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là hàng hóa giả mạo sở hữu trí tuệ.

Luật SHTT 2022 cũng đồng thời quy định bổ sung trách nhiệm tiếp tục làm thủ tục hải quan (thông quan) cho lô hàng bị tạm dừng của cơ quan hải quan nếu như chủ quyền sở hữu trí tuệ không khởi kiện dân sự và cơ quan hải quan không quyết định thụ lý vụ việc trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày thông báo.

Những sửa đổi này là để phù hợp với những cam kết của Việt Nam trong Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) (Điều 18.76.5 Hiệp định CPTPP)

Việc bổ sung các quy định cho phép cơ quan hải quan cho các biện pháp xử lý hàng hóa giả mạo Sở hữu trí tuệ tại biên giới nhằm ngăn chặn sớm các hành vi xâm phạm trước khi được lưu thông trong thị trường. Nâng cao mức độ bảo vệ quyền, lợi ích của chủ sở hữu quyền SHTT.

 

(iv) Thứ tư, bổ sung quy định cụ thể, rõ ràng về các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho chủ sở hữu quyền SHTT (khoản 1, 1a Điều 198)

 

Cùng với việc bổ sung những quy định về các biện pháp công nghệ bảo vệ quyền, Luật SHTT 2022 cũng bổ sung quy định về các biện pháp áp dụng biện pháp công nghệ bảo vệ quyền, đưa thông tin quản lý quyền hoặc áp dụng các biện pháp công nghệ khác nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Đồng thời, Luật SHTT 2022 cũng bổ sung biện pháp yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, gỡ bỏ và xóa nội dung vi phạm trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet công cộng. Luật cũng cho phép các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có thể ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình.

Tốc độ phát triển các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đặt ra yêu cầu phải có sự cập nhật các quy định của pháp luật để bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở quyền SHTT. Theo chúng tôi, đây là căn cứ pháp lý vững chắc để các chủ thể sở hữu quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình, và nhằm đối phó hiệu quả với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong thời đại cách mạng công nghệ 4.0. 

 

(v) Thứ năm, việc giả định về quyền tác giả, quyền liên quan (điều 198a) và trách nhiệm pháp lý về quyền tác giả, quyền liên quan đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian (điều 198b) là những quy định rất mới trong Luật SHTT 2022

 

Quy định về việc giả định về quyền tác giả, quyền liên quan (điều 198a) và trách nhiệm pháp lý về quyền tác giả, quyền liên quan đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian (điều 198b) là những quy định rất mới trong Luật SHTT 2022. Đây là các quy định đáp ứng đòi hỏi, nhu cầu cấp bách trong việc thực thi hiệu quả quyền SHTT trong lĩnh vực bản quyền tác giả và quy định này cũng đáp ứng cam kết của Việt Nam trong Hiệp định thương mại EVFTA. Theo đó,

 

(i) Điều 198a về Giả định về quyền tác giả, quyền liên quan, quy định,

Trong các thủ tục tố tụng dân sự, hành chính, hình sự về quyền tác giả và quyền liên quan, nếu không có chứng cứ ngược lại thì quyền tác giả, quyền liên quan được giả định như sau:

  1. Cá nhân, tổ chức được nêu tên theo cách thông thường là tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng, nhà sản xuất tác phẩm điện ảnh, nhà xuất bản được coi là chủ thể quyền đối với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đó;
  2. Nêu tên theo cách thông thường quy định tại khoản 1 Điều này được hiểu là được nêu tên trên bản gốc tác phẩm, bản định hình đầu tiên cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và các tài liệu liên quan (nếu có) hoặc trên các bản sao tương ứng được công bố hợp pháp trong trường hợp bản gốc tác phẩm, bản định hình đầu tiên cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng và các tài liệu liên quan không còn tồn tại;
  3. Cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 1 Điều này được hưởng quyền tác giả hoặc quyền liên quan tương ứng.

 

(ii) Điều 198b về Trách nhiệm pháp lý về quyền tác giả, quyền liên quan đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian, quy định,

  1. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian là doanh nghiệp cung cấp phương tiện kỹ thuật để tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ đưa nội dung thông tin số lên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet; cung cấp kết nối trực tuyến cho công chúng tiếp cận, sử dụng nội dung thông tin số trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet.
  2. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian có trách nhiệm triển khai các biện pháp kỹ thuật, phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các chủ thể quyền thực thi các biện pháp bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet.
  3. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian được miễn trừ trách nhiệm pháp lý đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trên môi trường mạng viễn thông và mạng Internet liên quan đến việc cung cấp hoặc sử dụng dịch vụ của mình trong các trường hợp sau đây:
  4. a) Chỉ thực hiện việc truyền dẫn nội dung thông tin số hoặc cung cấp khả năng truy nhập đến nội dung thông tin số;
  5. b) Khi thực hiện chức năng lưu trữ đệm trong quá trình truyền dẫn thông tin, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian phải thực hiện một cách tự động, tạm thời nhằm mục đích trung chuyển thông tin và làm cho việc truyền dẫn thông tin hiệu quả hơn, với các điều kiện sau: chỉ biến đổi thông tin vì lý do công nghệ; tuân thủ các điều kiện truy nhập, sử dụng nội dung thông tin số; tuân thủ các quy tắc về cập nhật nội dung thông tin số được quy định cụ thể theo cách thức được ngành công nghiệp thừa nhận và sử dụng rộng rãi; không ngăn cản việc sử dụng hợp pháp công nghệ được thừa nhận rộng rãi trong ngành công nghiệp để lấy dữ liệu về việc sử dụng nội dung thông tin số; gỡ bỏ nội dung thông tin số hoặc không cho truy nhập đến nội dung thông tin số khi biết rằng nội dung thông tin số đó đã được gỡ bỏ tại nguồn khởi đầu hoặc nguồn khởi đầu đã hủy việc truy nhập đến nội dung thông tin số đó;
  6. c) Lưu trữ nội dung thông tin số của người sử dụng dịch vụ theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ với các điều kiện sau: không biết rằng nội dung thông tin số đó xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan; có hành động nhanh chóng gỡ bỏ hoặc ngăn chặn việc truy nhập đến nội dung thông tin số đó khi biết rằng nội dung thông tin số đó xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan;
  7. d) Các trường hợp khác theo quy định của Chính phủ.
  8. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian được miễn trừ trách nhiệm pháp lý theo quy định tại khoản 3 Điều này không phải tự giám sát dịch vụ của mình hoặc chủ động tìm kiếm các bằng chứng chỉ ra hành vi xâm phạm.
  9. Nội dung thông tin số quy định tại Điều này là tác phẩm và các đối tượng quyền liên quan được bảo hộ theo quy định của Luật này được thể hiện dưới dạng số.
  10. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

 

6. Quy định về đại diện quyền sở hữu trí tuệ có thay đổi gì không?

(i) Thứ nhất, sửa đổi yêu cầu đối với Luật sư hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp (khoản 2, khoản 2a Điều 155)

 

Luật SHTT 2022 đã quy định và phân chia rõ ràng về điều kiện hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp (SHCN) đối với từng đối tượng SHCN cụ thể, cụ thể là: (i) hành nghề trong lĩnh vực nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, chống cạnh tranh không lành mạnh, bí mật kinh doanh và (ii) hành nghề trong lĩnh vực sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí.

Theo đó, Cá nhân đáp ứng các điều kiện sau đây thì được cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp, trừ trường hợp được quy định tại khoản 2a Điều này:

  1. a) Là công dân Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
  2. b) Thường trú tại Việt Nam;
  3. c) Có bằng cử nhân hoặc văn bằng trình độ tương đương đối với trường hợp hành nghề trong lĩnh vực nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, chống cạnh tranh không lành mạnh, bí mật kinh doanh; có bằng cử nhân hoặc văn bằng trình độ tương đương chuyên ngành khoa học tự nhiên hoặc khoa học kỹ thuật đối với trường hợp hành nghề trong lĩnh vực sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí;
  4. d) Đã trực tiếp làm công tác pháp luật về sở hữu công nghiệp từ năm năm trở lên (không yêu cầu năm năm liên tục như trước đây) hoặc đã trực tiếp làm công tác thẩm định các loại đơn đăng ký sở hữu công nghiệp tại cơ quan quốc gia hoặc quốc tế về sở hữu công nghiệp từ năm năm trở lên (không yêu cầu năm năm liên tục như trước đây) hoặc đã tốt nghiệp khóa đào tạo pháp luật về sở hữu công nghiệp được cơ quan có thẩm quyền công nhận;

đ) Không phải là công chức, viên chức, người lao động đang làm việc tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác lập và bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp;

  1. e) Đã đạt yêu cầu tại kỳ kiểm tra về nghiệp vụ đại diện sở hữu công nghiệp do cơ quan có thẩm quyền tổ chức.

 

Điểm 2a Điều 155 Luật SHTT 2022 quy định, Công dân Việt Nam là luật sư được phép hành nghề theo quy định của Luật Luật sư, thường trú tại Việt Nam thì được cấp Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp trong lĩnh vực nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, chống cạnh tranh không lành mạnh, bí mật kinh doanh nếu đã tốt nghiệp khóa đào tạo pháp luật về sở hữu công nghiệp được cơ quan có thẩm quyền công nhận.

 

Theo chúng tôi hiểu, một trong những lý do cho sự sửa đổi này là do lĩnh vực sáng chế đặt ra các yêu cầu cao hơn đối với người đại diện SHCN, phải có hiểu biết về chuyên ngành kỹ thuật tương ứng đồng thời có kiến thức về pháp luật. Ở nhiều nước trên thế giới, hoạt động đại diện được tách ra theo 2 nhánh: đại diện về sáng chế (gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp) và đại diện về nhãn hiệu. Tại một số nước (như Hoa Kỳ, Singapore), việc kiểm tra nghiệp vụ để cấp chứng chỉ hành nghề chỉ áp dụng đối với đại diện sáng chế, trong khi dịch vụ đại diện về nhãn hiệu được mở cho tất cả các luật sư. Lý do là vì lĩnh vực sáng chế đặt ra các yêu cầu cao hơn đối với người đại diện SHCN, người đại diện SHCN phải có hiểu biết về chuyên ngành kỹ thuật tương ứng đồng thời có kiến thức về pháp luật, trong khi đó nhãn hiệu liên quan nhiều đến vấn đề xã hội (kinh doanh và người tiêu dùng), do vậy các luật sư có khả năng thực hiện. Do vậy, sự thay đổi này cũng phù hợp với các quy định thông lệ tại nhiều nước trên thế giới và mở ra cơ hội hành nghề trong lĩnh vực mới cho luật sư.

 

(ii) Thứ hai, giới hạn các tổ chức có thể kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp (Điều 154)

 

Luật SHTT 2022 đã giới hạn chỉ có 04 loại tổ chức được phép kinh doanh dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp, bao gồm: Doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ. Trên thực tế, đây cũng là 4 loại hình tổ chức thường xuyên tiến hành các kinh doanh các dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp. Chúng tôi nhận định rằng sự thay đổi này quy định này là phù hợp với thực tiễn.

Luật đã bãi bỏ quy định người đứng đầu, hoặc được đứng đầu tổ chức phải có Chứng chỉ hành nghề dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp (SHCN). Khi Luật SHTT 2022 có hiệu lực thì các tổ chức kinh doanh dịch vụ đại diện SHCN chỉ cần có 1 cá nhân trong tổ chức là được kinh doanh dịch vụ này. Quy định này được sửa đổi để hài hòa với quy định chỉ 4 tổ chức có thể kinh doanh dịch vụ đại diện SHCN, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức kinh doanh dịch vụ đại diện SHCN.

 

(iii) Thứ ba, sửa đổi các quy định về dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng (khoản 3 Điều 165)

 

Dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng bao gồm: đại diện cho tổ chức, cá nhân trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền về xác lập và bảo đảm thực thi quyền đối với giống cây trồng; tư vấn về vấn đề liên quan đến thủ tục xác lập và thực thi quyền đối với giống cây trồng; các dịch vụ khác liên quan đến thủ tục xác lập và thực thi quyền đối với giống cây trồng.

Chúng tôi cho rằng quy định đã nhằm tạo lập môi trường kinh doanh dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng minh bạch, rõ ràng cho khách hàng sử dụng dịch vụ đại diện quyền đối với giống cây trồng.

 

7. Nhóm các quy định về giám định Sở hữu trí tuệ có điểm gì mới?

Điều 201 về Giám định sở hữu trí tuệ trong Luật SHTT 2022 quy định,

  1. Giám định về sở hữu trí tuệ là việc tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này sử dụng kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn để đánh giá, kết luận về những vấn đề có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ. Việc giám định tư pháp về sở hữu trí tuệ được thực hiện theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp.

1a. Giám định sở hữu trí tuệ bao gồm:

  1. a) Giám định về quyền tác giả và quyền liên quan;
  2. b) Giám định về quyền sở hữu công nghiệp;
  3. c) Giám định về quyền đối với giống cây trồng.
  4. Doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, tổ chức hành nghề luật sư, được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật có ít nhất một cá nhân có Thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ được thực hiện hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2a Điều này.

2a. Tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam không được kinh doanh dịch vụ giám định sở hữu công nghiệp.

  1. Cá nhân có đủ các điều kiện sau đây được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ:
  2. a) Là công dân Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
  3. b) Thường trú tại Việt Nam;
  4. c) Có phẩm chất đạo đức tốt;
  5. d) Có trình độ đại học trở lên về chuyên ngành phù hợp với lĩnh vực đề nghị cấp thẻ giám định, đã qua thực tế hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực đó từ năm năm trở lên và đạt yêu cầu kiểm tra nghiệp vụ về giám định.
  6. Nguyên tắc thực hiện giám định bao gồm:
  7. a) Tuân thủ pháp luật, tuân theo trình tự, thủ tục giám định;
  8. b) Trung thực, chính xác, khách quan, vô tư, kịp thời;
  9. c) Chỉ kết luận về chuyên môn những vấn đề trong phạm vi được yêu cầu;
  10. d) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận giám định;

đ) Chi phí giám định được xác định thông qua thỏa thuận giữa người có yêu cầu giám định và tổ chức, cá nhân giám định.

  1. Kết luận giám định là một trong các nguồn chứng cứ để cơ quan có thẩm quyền xử lý, giải quyết vụ việc. Kết luận giám định không kết luận về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc kết luận về vụ tranh chấp.
  2. Chính phủ quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ.

 

Theo đó, quy định về giám định SHTT có những điểm thay đổi như sau:

 

(i) Thứ nhất, bổ sung quy định hướng dẫn về giám định sở hữu trí tuệ (khoản 1 Điều 201)

 

Giám định SHTT là lĩnh vực đòi hỏi trình độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực bảo hộ, thực thi quyền SHTT. Do đó, cá nhân (chuyên gia) muốn hành nghề trong lĩnh vực này thì theo quy định hiện hành, ngoài kinh nghiệm công tác 05 năm, đòi hỏi phải đạt yêu cầu tại kỳ kiểm tra nghiệp vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức. Các cơ quan quản lý nhà nước về giám định SHTT đang gặp khó khăn trong việc nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tiêu chuẩn của người được cấp Thẻ giám định viên. Theo đó, người được cấp Thẻ giám định phải đảm bảo vừa có kinh nghiệm thực tế, vừa có đầy đủ kiến thức chuyên sâu về từng lĩnh vực đáp ứng yêu cầu thực tế của xã hội. Trên thực tế theo chúng tôi được biết, cho đến nay, cả 03 cơ quan trực tiếp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về SHTT vẫn chưa tổ chức được kỳ kiểm tra nghiệp vụ nào để cấp thẻ giám định viên SHTT. 

 

(ii) Thứ hai, tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài có thể kinh doanh dịch vụ giám định về quyền đối với giống cây trồng (khoản 1a, khoản 2, khoản 2a Điều 201)

 

Luật SHTT 2022 đã bổ sung khoản 1a Điều 201 và phân loại các lĩnh vực giám định về SHTT thành 3 loại gồm: Giám định về quyền tác giả và quyền liên quan; Giám định về quyền sở hữu công nghiệp; Giám định về quyền đối với giống cây trồng”

Luật sửa đổi khoản 2 Điều 201 Luật SHTT năm 2022 quy định doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, tổ chức hành nghề luật sư, được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật có ít nhất một cá nhân có Thẻ giám định viên sở hữu trí tuệ được thực hiện hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2a Điều 201.

Tiếp đó, Khoản 2a Điều 201 Luật SHTT 2022 quy định về tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam không được kinh doanh dịch vụ giám định sở hữu công nghiệp.

Với cách quy định này, kể từ năm 2023, tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam chỉ bị hạn chế kinh doanh dịch vụ giám định về quyền sở hữu công nghiệp và có thể tiến hành kinh doanh 02 loại hình dịch vụ giám định sở hữu trí tuệ còn lại bao gồm: giám định về quyền đối với giống cây trồng và giám định về quyền tác giả và quyền liên quan.

Tác động của việc sửa đổi, bổ sung này là phân định rõ ràng phạm các lĩnh vực giám định trong sở hữu trí tuệ và mở rộng phạm vi hoạt động trong lĩnh vực giám định SHTT cho các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam.

 

(iii) Thứ ba, khẳng định giá trị pháp lý của kết quả quả giám định (Khoản 5 Điều 201)

 

Quy định về quyền yêu cầu giám định SHTT của Luật SHTT năm 2019 không quy định rõ ràng về giá trị pháp lý của bản Kết luận giám định SHTT. Luật SHTT 2002 đã quy định rõ, kết luận giám định SHTT là một nguồn chứng cứ để cơ quan có thẩm quyền xử lý giải quyết vụ việc. Kết luận giám định không kết luận về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc kết luận về vụ tranh chấp.

 

8. Các quy định về đăng ký bảo hộ quyền đối với giống cây trồng đã có thay đổi như thế nào?

(i) Thứ nhất, sửa đổi điều kiện bảo hộ đối với giống cây trồng (Điều 158)

 

Luật SHTT sửa đổi bổ sung 2009, 2019 đã quy định 6 điều kiện bảo hộ giống cây trồng bao gồm: gồm tính mới, tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định, có tên phù hợpthuộc Danh mục loài cây trồng được Nhà nước bảo hộ do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành. Tuy nhiên, Luật SHTT 2022 đã rút gọn xuống còn 5 điều kiện bảo hộ đối với giống cây trồng, loại bỏ quy định giống cây trồng phải thuộc Danh mục loài cây trồng được Nhà nước bảo hộ do Bộ NN&PTNT ban hành. Nói cách khác, kể từ năm 2023 Việt Nam sẽ phải bảo hộ tất cả các loại giống cây trồng đáp ứng các điều kiện bảo hộ nêu trên.

Công ước quốc tế về bảo vệ giống cây trồng mới (UPOV) quy định, sau 10 năm kể từ ngày tham gia công ước, các quốc gia thành viên mới gia nhập Công ước có nghĩa vụ bảo vệ tất cả các giống cây trồng sau 10 năm kể từ ngày tham gia công ước. Việt Nam tham gia Công ước vào 24/12/2006 – nên được xếp vào nhóm các quốc gia thành viên mới gia nhập, đồng nghĩa với việc Việt Nam phải thực hiện quy định kể trên. Tính đến nay đã quá 10 năm kể từ thời điểm Việt Nam tham gia Công ước nên việc loại bỏ quy định chỉ bảo hộ một số giống cây trồng là phù hợp.

Việc mở rộng phạm vi bảo hộ của giống cây trồng của Luật SHTT năm 2022 đã tạo điều kiện, khuyến khích tổ chức, cá nhân đẩy mạnh việc nghiên cứu, phát triển các giống cây trồng mới, không còn bị hạn chế bởi Danh mục loài cây trồng được Nhà nước bảo hộ do Bộ NN&PTNT ban hành.

 

(ii) Thứ hai, quy định chặt chẽ hơn về việc sử dụng tên giống cây trồng để đăng ký nhãn hiệu (điểm o khoản 2 Điều 74)

 

Luật SHTT 2022 bổ sung quy định về khả năng phân biệt của nhãn hiệu. Về cơ bản, khi tổ chức, cá nhân sử dụng tên giống cây  trồng mà có dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với tên giống cây trồng đã hoặc đang được bảo hộ tại Việt Nam để đăng ký làm nhãn hiệu độc quyền cho các hàng hóa là giống cây trồng hoặc sản phẩm tương tự thì sẽ bị từ chối bảo hộ.

Việc bổ sung quy định hạn chế sử dụng tên giống cây trồng để đăng ký nhãn hiệu là biện pháp nhằm tăng cường khả năng bảo vệ quyền tác giả giống cây trồng. Quy định này được cho là sẽ xử lý toàn diện các vấn đề liên quan đến hành vi sử dụng tương tự giống cây trồng đã được bảo hộ. Giải quyết hiệu quả xung đột giữa nhãn hiệu và tên giống cây trồng.

 

(iii) Thứ ba, sửa đổi điều kiện về tên của giống cây trồng (khoản 1 Điều 163, điểm a khoản 3 Điều 163, điểm c khoản 3 Điều 163)

 

Theo Điều 163 Luật SHTT 2022, quy định về tên của giống cây trồng được sửa đổi như sau:

  1. Tổ chức, cá nhân đăng ký quyền đối với giống cây trồng phải đề xuất một tên phù hợp cho giống cây trồng với Cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng, tên đó phải trùng với tên đã đăng ký bảo hộ ở bất kỳ quốc gia thành viên nào của Hiệp hội quốc tế về bảo hộ giống cây trồng và quốc gia có ký kết thỏa thuận với nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bảo hộ giống cây trồng.
  2. Tên của giống cây trồng được coi là phù hợp nếu tên đó có khả năng dễ dàng phân biệt được với tên của các giống cây trồng khác được biết đến rộng rãi trong cùng một loài hoặc loài tương tự.
  3. Tên của giống cây trồng không được coi là phù hợp trong các trường hợp sau đây:
  4. a) Chỉ bao gồm các chữ số, trừ trường hợp chữ số liên quan đến đặc tính hoặc sự hình thành giống đó hoặc bao gồm cả tên loài của giống cây trồng đó;
  5. b) Vi phạm đạo đức xã hội;
  6. c) Dễ gây hiểu nhầm về các đặc trưng, đặc tính, giá trị của giống đó;
  7. d) Dễ gây hiểu nhầm về danh tính của tác giả;

đ) Trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày công bố đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng;

  1. e) Ảnh hưởng đến quyền đã có trước của tổ chức, cá nhân khác.
  2. Tổ chức, cá nhân chào bán hoặc đưa ra thị trường vật liệu nhân giống của giống cây trồng phải sử dụng tên giống cây trồng như tên đã ghi trong bằng bảo hộ, kể cả sau khi kết thúc thời hạn bảo hộ.
  3. Khi tên giống cây trồng được kết hợp với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại hoặc các chỉ dẫn tương tự với tên giống cây trồng đã được đăng ký để chào bán hoặc đưa ra thị trường thì tên đó vẫn phải có khả năng nhận biết một cách dễ dàng;
  4. Trường hợp tên giống cây trồng đăng ký bảo hộ không phù hợp với các yêu cầu quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng từ chối tên đó và yêu cầu người đăng ký đề xuất tên khác trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày ban hành thông báo. Cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng ghi nhận tên chính thức của giống cây trồng từ thời điểm cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng.

 

Việc sửa đổi về tên của giống cây trồng năm theo Luật SHTT 2022 là nhằm tăng cường mức độ nội luật hóa những quy định của Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới quy định tại  Điều 20 của Công ước UPOV. Những thay đổi này đã thống nhất được cách hiểu về điều kiện tên của giống cây trồng trong Luật SHTT của Việt Nam, tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức nước ngoài khi muốn đăng ký bảo hộ quyền tác giả đối với giống cây trồng tại Việt Nam.

 

9. Quy định về việc khuyến khích tạo ra, khai thác và phổ biến sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước

Luật SHTT 2022 quy định về việc trao quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước cho tổ chức chủ trì một cách tự động và không bồi hoàn, đồng thời có cơ chế phân chia hợp lý lợi ích giữa Nhà nước, cơ quan chủ trì và tác giả. Các quy định này không chỉ khắc phục các bất cập hiện nay về việc đăng ký và khai thác các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ do nhà nước đầu tư mà còn là cú hích để khuyến khích các chủ thể nghiên cứu nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ động đăng ký, khai thác các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng được tạo ra; thúc đẩy quan hệ hợp tác với doanh nghiệp để chuyển giao công nghệ, thương mại hóa và thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư để phát triển, nghiên cứu sản phẩm, qua đó thu về nhiều lợi ích kinh tế cũng như đạt được các mục tiêu về an sinh xã hội.

 

(i) Thứ nhất, bổ sung quy định về quyền của Nhà nước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước (Điều 133a)

 

Điều 133a Luật SHTT 2022 quy định, Đại diện chủ sở hữu nhà nước thông báo công khai trong thời hạn chín mươi ngày để giao quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu.

– Trong một số trường hợp, Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước mà không cần sự đồng ý của người nắm độc quyền sử dụng.

 

(ii) Thứ hai, bổ sung quy định quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà (Điều 86a)

 

Theo quy định tại Điều 86a Luật SHTT 2022, quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí sẽ được căn cứ vào nguồn ngân sách cho nhiệm vụ mà giao cho Đại diện chủ sở hữu nhà nước hay tổ chức chủ trì nhiệm vụ.

 

(iii) Thứ ba, bổ sung quy định nghĩa vụ của tổ chức chủ trì đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước (Điều 136a)

 

Theo Điều 136a Luật SHTT 2022,Về cơ bản tổ chức chủ trì sẽ có những nghĩa vụ sau:

Thông báo cho đại diện chủ sở hữu nhà nước trong trường hợp các đối tượng SHCN là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước.

Nộp đơn đăng ký xác lập quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước tại Việt Nam.

Trả thù lao cho tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí theo quy định.

 

Từ khóa: Thực thi quyền SHTT, giống cây trồng, đại diện quyền SHTT, giám định SHTT, bài viết nổi bật

 

GIẢI QUYẾT TRANH QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ NHANH CHÓNG, HIỆU QUẢ

BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ AN TOÀN

ĐỂ KINH DOANH BỀN VỮNG, PHÁT TRIỂN THÀNH CÔNG

 

CÔNG TY LUẬT ELITE – 255 Hoàng Văn Thái, Khương Trung, Thanh Xuân, Hà Nội

SĐT: 0243 7373 051 | Hotline/Zalo: 0988 746 527 | Email: info@lawfirmelite.com

Bình luận bài viết

X